Lịch công giáo
Đài chân lý Á Châu
Radio Vatican
Sinh hoạt hè 2017
Hong an Tien Khan 2018
Hong an Vinh Khan 2018
Mung Kim Khanh- Ngan Khanh Khan Dong 2018

Suy Niệm Lời Chúa Chúa Nhật 20 Thường Niên B

BÁNH THÁNH THỂ

Bài đọc 1 trích sách Châm Ngôn: “Hãy đến mà ăn bánh của ta, và uống rượu do ta pha chế”. Theo lời sách Châm Ngôn, bánh và rượu đây là Đức Khôn Ngoan. Đức Khôn Ngoan được “thiên cách hóa” như chính Thiên Chúa: “đừng ngây thơ dại ngờ nữa, và các con sẽ được sống; hãy bước đi trên con đường hiểu biết”.

Tin Mừng thánh Gioan chương 6 cho thấy Chúa Giêsu Kitô chính là Đức Khôn Ngoan Nhập Thể, là Bánh Hằng Sống, “Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời”.

Trang Tin Mừng hôm nay là đỉnh cao của mạc khải Đức Khôn Ngoan Nhập Thể trở thành Bánh Thánh Thể.

Chúa Giêsu khẳng định: “Bánh tôi ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. Người Do thái phản ứng và tranh luận sôi nổi: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?”.

Chúa Giêsu giải thích và khẳng định thêm: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết”.

Chúa Giêsu cho biết hiệu năng khi “ăn thịt và uống máu” là được kết hiệp mật thiết với Chúa: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy”.

Chúa Giêsu nhắc lại hiệu lực của manna cũ để so sánh với hiệu năng của Manna mới: “Tổ tiên các ngươi đã ăn mana và đã chết. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời”.

Những lời Chúa Giêsu giảng dạy mạc khải rõ ràng về Bí Tích Thánh Thể.

Bí Tích Thánh Thể được Chúa tiên báo trong tiệc cưới Cana, được hứa ban cho dân ở Caphanaum.

Bí Tích Thánh Thể được Chúa thiết lập trong Tiệc Ly: “Đang khi ngồi ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho các môn đệ và phán:Tất cả các con hãy cầm lấy mà ăn, này là mình Ta sẽ bị nộp vì các con.Cùng một thể thức ấy, Người cầm lấy chén, tạ ơn, trao cho các môn đệ và nói:Tất cả hãy cầm lấy mà uống vì này là chén máu Ta, máu giao ước sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”. (Mt 26,26-29).

Bí Tích Thánh Thể được Chúa cử hành đầu tiên tại làng quê Emmau “Người cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho họ. Và họ đã nhận ra Người đã Phục sinh” (Lc 24,13-35).

Thánh Thể là sự sống của Giáo Hội, là lương thực thiêng liêng cho đời sống và là bảo đảm cho hạnh phúc trường cửu của người tín hữu chúng ta.

Thánh Thể là mối hiệp nhất giữa Thiên Chúa với con người, và giữa con người với nhau.

Thánh Thể chính là Tặng Phẩm Thần Linh mà Thiên Chúa trao cho nhân loại.

Lịch sử cứu độ là lịch sử hồng ân và là lịch sử tình yêu tự hiến của Thiên Chúa. Cao điểm của lịch sử này là Thập Giá Đức Kitô. Thập Giá là tột đỉnh hy sinh của Thiên Chúa. Thập Giá biểu lộ tình yêu điên rồ của Thiên Chúa. Thập Giá cũng là tột đỉnh hy sinh của Đức Kitô, Đấng đã hạ mình vâng phục Chúa Cha cho đến chết và chết trên Thập Giá. Thập giá là cao điểm tình yêu tự hiến của Chúa Kitô.

Tình yêu sâu thẳm và khôn dò của Thiên Chúa biểu lộ nơi Thập Giá Đức Kitô là tình yêu vượt thời gian. Tình yêu tự hiến của Đức Kitô biểu lộ bằng cái chết cũng vượt thời gian. Chúa Kitô chỉ tự hiến một lần, tự hiến trọn vẹn thay cho mọi lần. Chúa đã biểu lộ điều này trong bữa Tiệc Ly. Từ đó, Bí Tích Thánh Thể là nguồn mạch của đời sống Giáo Hội, là trọng tâm và là tột đỉnh của sinh hoạt Giáo Hội. Thánh Thể làm nên Giáo Hội. Không có Thánh Thể thì không có Giáo Hội. Giáo hội là thân mình gồm nhiều người ăn cùng một tấm bánh là thân mình Đức Kitô (1 Co10,17). Như thế bàn tiệc Thánh Thể là nguồn mạch của yêu thương, cảm thông và hiệp nhất.

Giáo hội luôn định tín rằng: dù chỉ một miếng bánh nhỏ, khi đã được Truyền Phép, vẫn chứa đựng cả thân xác, linh hồn và thần tính của Đức Kitô. Chúng ta có Đức Kitô nguyên vẹn và cụ thể. Chính Chúa Thánh Thần Kitô hóa bánh rượu, làm cho bánh rượu trở nên Mình và Máu Chúa Kitô. Khi linh mục, thừa tác viên của Giáo hội, thay mặt Chúa Kitô đọc Lời Truyền Phép. Lời Truyền Phép mà linh mục đọc không phải là một câu thần chú có một ma lực biến bánh và rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô, giống như linh mục có quyền trên Chúa Kitô, khiến Chúa đến thì Ngài phải đến. Lời Truyền Phép chính là Lời Chúa Kitô, Lời mà Chúa Kitô muốn nói qua môi miệng của linh mục. Chúa Kitô đã chọn một số người để họ lập lại y nguyên Lời Truyền Phép của Ngài. Chính Chúa Thánh Thần lấp đầy “khoảng cách” giữa linh mục và Đức Kitô, khiến Lời Truyền Phép trở nên “công hiệu”, làm cho nội dung của Lời trở thành hiện thực. Sau Truyền Phép bánh không còn là bánh mà là Mình Thánh Chúa, rượu không còn là rượu mà là Máu Thánh Chúa. Đã có một sự thay đổi, sự thay đổi ấy là thay đổi bản thể hay “biến thể”. Đây là công việc của Chúa Thánh Thần, chứ không phải là công việc của người phàm, dù người ấy là linh mục. Vì ý thức điều đó, Giáo hội thiết tha khẩn cầu trước lúc linh mục Truyền Phép:

  • “Chúng con nài xin Cha đổ ơn Thánh Thần xuống mà thánh hóa của lễ này, để biến thành Mình và Máu của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con” (Kinh Nguyện Thánh Thể II).
  • “Lạy Cha, chúng con tha thiết nài xin Cha, cũng nhờ Chúa Thánh Thần, mà thánh hóa của lễ chúng con dâng hiến Cha đây, để trở nên Mình và Máu Đức Giêsu Kitô, con Cha, Chúa chúng con” (Kinh Nguyện Thánh Thể III).
  • “Lạy Cha, xin cho Chúa Thánh Thần đoái thương thánh hóa những của lễ này, để biến thành Mình và Máu Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con” (Kinh Nguyện Thánh Thể IV).

Chúa Thánh Thần làm cho Chúa Kitô hiện diện thực sự giữa chúng ta, trong hình bánh và rượu. Điều đó không có nghĩa là Đức Kitô không hiện diện thực sự bằng những cách khác, như hiện diện qua lời Kinh Thánh, hiện diện trong Giáo hội, hiện diện nơi những người nghèo khổ, hiện diện giữa hai hoặc ba người họp nhau cầu nguyện (Mt 18, 20). Tất cả những cách hiện diện đó đều là hiện diện thực. Có điều khác là: Đức Kitô không đồng hóa với lời Kinh thánh, Lời Kinh thánh được đọc lên không là bản thân Đức Kitô; Đức Kitô cũng không đồng hóa với người nghèo, vì người nghèo không là bản thân Đức Kitô, dù Ngài đã nói: “Ta đói các ngươi cho ăn, Ta khát các ngươi cho uống...” (Mt 25, 35- 36). Trái lại nơi Bí Tích Thánh Thể, sau Lời Truyền Phép, bánh và rượu là Đức Kitô, là bản thân Ngài, là bản thể Ngài, là Mình và Máu Ngài. Trong Bí Tích Thánh Thể, sự hiện diện của Đức Kitô có một chiều sâu hữu thể mà không nơi nào có. Sự hiện diện đích thực và đặc biệt này của Đức Kitô là kết quả của một sự thay đổi mà tác động thay đổi chính là công việc của Chúa Thánh Thần làm khi linh mục đọc Lời Truyền Phép. (x.simonhoadalat.com, Tặng phẩm Thần Linh, ĐTGM Phaolô Bùi Văn Đọc).

Bí Tích Thánh Thể là sáng kiến của tình yêu. Tình yêu luôn có những sáng kiến bất ngờ và kỳ diệu. “Thiên Chúa đã yêu thế gian nỗi ban chính Con Một…” (Ga 3, 16) và Con Một là Chúa Giêsu đã yêu cho đến cùng, đã lập Bí tích Thánh Thể để ở với con người luôn mãi.

Bông lúa và trái nho là những sản phẩm thông thường và cần thiết nhất mà ruộng đất cống hiến cho con người. Bánh và rượu có thể tầm thường, nhưng lại là những gì gần gũi và cần thiết nhất cho cuộc sống con người hàng ngày. Chúa Giêsu đã muốn trở nên những gì cần thiết và gần gũi đó. Người muốn bánh và rượu trở nên thịt máu của Người. Từ bông lúa bị nghiền nát, từ chùm nho bị ép, nghĩa là từ cuộc khổ nạn và cái chết trên Thập Giá, Chúa Giêsu đã trở thành tấm bánh, thành ly rượu đem lại sự sống đời đời cho nhân loại. Vật chất đã trở thành biểu tượng cho sự hiện diện thần linh.

Trước tình yêu bao la của Thiên Chúa, thánh Phaolô trong bài đọc 2 khuyên các tín hữu: “Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha”, đồng thời: “Hãy sống như người khôn ngoan, biết tận dụng thời gian hiện tại…hãy tìm hiểu đâu là ý Chúa…hãy thấm nhuần Thần Khí”. Ý Thiên Chúa muốn chúng ta sống yêu thương như Chúa Giêsu Kitô đã yêu thương.

Mình và Máu Chúa Kitô là hồng ân vô giá, chúng ta đón nhận để có sự sống thần linh của Chúa. Tham dự Thánh Lễ tích cực, trọn vẹn là cách tốt nhất thể hiện lòng yêu mến Chúa. Thỉnh thoảng trong ngày, trong tuần, chúng ta nên quỳ gối trước Thánh Thể, chúng ta có thể học được nhiều điều từ Bí Tích Tình Yêu.

Lm.  Giuse Nguyễn Hữu An 

 

ĐẮN ĐO

Đắn đo là cân nhắc và so sánh mức độ hơn – kém nhau như thế nào. Khi đó cần có trí tuệ sáng suốt để có thể cân nhắc một cách chính xác nhất. Tác giả sách Huấn Ca xác định: “Ăn nói thì phải cân nhắc đắn đo, miệng con phải như là cửa có khoá. Hãy ý tứ, đừng để lỡ lời, kẻo vấp ngã trước kẻ rình rập con” (Hc 28:25-26). Và rồi tác giả kết luận: “Làm việc gì cũng phải đắn đo cân nhắc” (Hc 31:15). Đắn đo có thể tốt và cũng có thể không tốt – không tốt vì đắn đo thái quá nên hóa ra nhút nhát.

Đắn đo không phải là để thoái thác hoặc lẩn tránh, mà là cân nhắc điều hơn lẽ thiệt để không phải hối tiếc. Người Việt có cách ví von: “Khôn cho người ta rái, dại cho người ta thương, dở dở ương ương chỉ tổ người ta ghét”. Kinh Thánh cũng có cách nói còn đáng quan ngại hơn: “Vì ngươi hâm hẩm, chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta” (Kh 3:16). Rất cần cân nhắc để có thể dứt khoát, vì người ta chỉ có thể chọn một trong hai, không thể “bắt cá hai tay”.

Cuộc sống có vẻ đơn giản mà lại luôn nhiêu khê, đôi khi quá sức tưởng tượng của chúng ta. Ngay trong cuộc sống đời thường cũng luôn có nhiều “chuyện lạ”, nhưng mỗi chuyện đều có những mức độ “lạ” khác nhau, thậm chí là khác hẳn. Tốt cũng “lạ”, xấu cũng “lạ”. Vì vậy mà cần phải tỉnh táo, biết phân biệt cái gì đúng hoặc cái gì sai. Người cẩn trọng luôn biết đắn đo cân nhắc, đó là người thông minh và khôn ngoan. Về cách xử sự này, Chúa Giêsu dạy: “Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải KHÔN như rắn và ĐƠN SƠ như bồ câu” (Mt 10:16). Đắn đo cân nhắc như vậy không hề dễ dàng gì, nhưng phải cố gắng!

ĐẮN ĐO KHÔN

Khôn ngoan là một nhân đức, rất quan trọng trong mọi trường hợp. Kinh Thánh cho biết: Đức Khôn Ngoan đã xây cất nhà mình, dựng lên bảy cây cột, hạ thú vật, pha chế rượu, dọn bàn ăn và sai các nữ tỳ ra đi. Đức Khôn Ngoan còn lên các nơi cao trong thành phố và kêu gọi: “Hỡi người ngây thơ, hãy lại đây!” (Cn 9:4). Với người ngu si, Đức Khôn Ngoan bảo: “Hãy đến mà ăn bánh của ta và uống rượu do ta pha chế! Đừng ngây thơ khờ dại nữa, và các con sẽ được sống; hãy bước đi trên con đường hiểu biết” (Cn 9:5-6). Mỗi người có mức độ nhận thức khác nhau, cao – thấp và rộng – hẹp, dù là ai cũng phải luôn trau dồi để khả dĩ đạt mức hiệu quả nhất.

Chúng ta là phàm nhân cát bụi, trí óc thấp hơn ngọn cỏ, không thể nào hiểu nổi đường lối cao siêu của Thiên Chúa. Thánh LM TS Thomas Aquino (1225–1274) là tác giả bộ Tổng Luận Thần Học đồ sộ, thế mà khi được hỏi thì ngài bảo “chỉ là rơm rác”. Thật vậy, đối với Thiên Chúa thì chỉ là thế thôi. Vì vậy, chúng ta chẳng có gì để dám mạo nhận, mà phải luôn thầm nhủ: “Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa, câu hát mừng Ngài chẳng ngớt trên môi” (Tv 34:2), đồng thời còn phải chia sẻ với người khác: “Linh hồn tôi hãnh diện vì Chúa, xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên. Hãy cùng tôi ngợi khen Đức Chúa, ta đồng thanh tán tụng danh Ngài” (Tv 34:3-4). Có thể có người sẽ thắc mắc, và đây là lý do: “Tôi đã tìm kiếm Chúa, và Ngài đáp lại, giải thoát cho khỏi mọi nỗi kinh hoàng” (Tv 34:5). Chắc chắn Thánh Vịnh gia đã đắn đo khôn lắm mới có được lý do độc đáo như vậy.

Tình yêu của Thiên Chúa bao la, lòng thương xót của Ngài vô biên, chắc chắn rằng “ai nhìn lên Chúa sẽ vui tươi hớn hở, không bao giờ bẽ mặt hổ ngươi” (Tv 34:6). Sự thường thì “vô tri, bất mộ”. Nhưng một khi đã “nếm thử” sự ngọt ngào của Ngài rồi, người ta sẽ khiêm nhường khi làm chứng về Ngài: “Kẻ nghèo này kêu lên và Chúa đã nhận lời, cứu cho khỏi mọi cơn nguy khốn” (Tv 34:7). Đó là sự thật vừa mặc nhiên vừa minh nhiên, không thể chối cãi.

Có một điều cần thiết Thánh Vịnh gia muốn nhắc nhở và động viên chúng ta: “Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy: hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người!” (Tv 34:9). “Nghiệm xem” là cách “nếm thử”. Và khi nghiệm ra Chúa rồi thì người ta sẽ thêm khôn ngoan, biết sống theo lời khuyên tốt lành: “Phải giữ mồm giữ miệng, đừng nói lời gian ác điêu ngoa; hãy làm lành, lánh dữ;, tìm kiếm bình an, ăn ở thuận hoà” (Tv 34:14-15). Lời do lưỡi, lưỡi như lửa, nó có thể thiêu rụi mọi thứ.

Cách đắn đo khôn khéo của Việt nhân đơn giản mà thú vị: “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”. Đồ ăn ngon lành, chỗ ăn thú vị, người cùng ăn phù hợp, nhưng còn phải biết cách ăn, đặc biệt là cách ngồi ăn. Không đơn giản chi cả! Đó là phép lịch sự cơ bản nhưng lại thể hiện sự ý tứ, tinh tế và khôn khéo. Cách ăn bình thường mà đã quan trọng như vậy, huống phi “cách ăn nết ở”. Thánh Phaolô khuyên: “Anh em hãy cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của mình, đừng sống như kẻ khờ dại, nhưng hãy sống như người khôn ngoan, biết tận dụng thời buổi hiện tại, vì chúng ta đang sống những ngày đen tối” (Ep 5:15-16). Thánh nhân “vuốt mặt” mà không cần “nể mũi”, cứ nói thẳng nói thật: “Anh em ĐỪNG hoá ra ngu xuẩn, nhưng HÃY tìm hiểu đâu là Ý Chúa. CHỚ say sưa rượu chè, vì rượu chè đưa tới truỵ lạc, nhưng HÃY thấm nhuần Thần Khí” (Ep 5:17-18). Một câu ngắn mà có tới bốn mệnh lệnh cách phủ định: CẤM. Đó mới là cách sống khôn ngoan, mà người nào có “sống khôn” thì mới có thể “chết thiêng”. Hệ lụy lô-gích lắm!

Theo quan niệm xưa, những người có “máu nhạc” đều bị coi là “xướng ca vô loài”, nghĩa là “không hề giống ai” theo dạng “kỳ quặc”, kiểu như “con giáp thứ 13” không có trong danh sách các con giáp. Thế mà Thánh Phaolô lại khuyên: “Hãy cùng nhau đối đáp những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa” (Ep 5:19). Quan niệm xưa sai hay là chúng ta hiểu không đúng? Đặc biệt hơn, thánh nhân nhấn mạnh: “Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha” (Ep 5:20). Tạ ơn khi vui mừng và may mắn thì đó là điều dễ dàng, không có gì đáng nói; nhưng tạ ơn khi buồn rầu và kém may mắn thì đó mới là điều đáng nói. Khó lắm! Thế mà Thánh Gióp đã làm được điều đó, dù đời ông là bản “trường ca đau khổ”, khổ tới mức trắng tay – cả nghĩa bóng và nghĩa đen. Chúng ta phải nỗ lực noi gương Thánh Gióp mới mong “xách dép” theo ngài được. Và rồi Thiên Chúa đã “bù lỗ” cho ngài Gióp. Phúc thay!

CÂN NHẮC KHÉO

Có cách đắn đo khôn thì cũng có được cách cân nhắc khéo. Cái gì cũng có hệ lụy, chẳng có gì gọi là ngẫu nhiên đâu. Có những lúc đắn đo cân nhắc rất dễ, nhưng cũng có những khi đắn đo cân nhắc rất khó.

Thật vậy, giả sử lần đầu nghe Chúa Giêsu xác định Ngài là “bánh hằng sống từ trời xuống”, bất cứ ai ăn loại bánh ấy sẽ “được sống muôn đời”. Ngài còn nói rõ ràng rằng bánh Ngài ban tặng chính là thịt của Ngài và loại thít ấy làm cho thế gian “được sống” (Ga 6:51), liệu chúng ta có thể tin “chuyện động trời” như vậy? Chắc hẳn là không! Ngày xưa, người Do-thái khi nghe Chúa Giêsu nói vậy, họ không tin và tranh luận sôi nổi với nhau: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” (Ga 6:52). Đó cũng là một cách phản đối. Ăn thịt sống của động vật đã là “điều lạ”, huống chi là “ăn thịt và uống máu người”. Ôi, phải nói là… kinh dị thật!

Vâng, phàm nhân không thể tin nếu không có đức tin. Lúc đó chắc là Chúa Giêsu cười thầm trong bụng. Biết họ không thể tin vì “chói tai”, nhưng sự thật mãi mãi là sự thật, và Ngài vẫn xác quyết: “Thật, Tôi bảo thật các ông: nếu các ông KHÔNG ăn thịt và uống máu Con Người, các ông KHÔNG có sự sống nơi mình. Ai ĂN thịt và UỐNG máu Tôi thì được SỐNG muôn đời, và Tôi sẽ cho người ấy SỐNG LẠI vào ngày sau hết, vì thịt Tôi thật là của ăn, và máu Tôi thật là của uống” (Ga 6:53-55). Chắc là lúc đó ai cũng trố mắt và há hốc mồm miệng vì ngạc nhiên, vậy mà họ vẫn vểnh tai nghe “điều kỳ lạ” ấy. Rồi Chúa Giêsu nói tiếp: “Ai ăn thịt và uống máu Tôi thì ở lại trong Tôi, và Tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai Tôi, và Tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào thì kẻ ăn Tôi cũng sẽ nhờ Tôi mà được sống như vậy” (Ga 6:56-57). Cách lý luận của Thánh Bernadette rất chí lý: “Đối với người tin thì không cần giải thích, đối với người không tin thì giải thích cũng vô ích”.

Thật tuyệt vời vì Chúa Giêsu là nhà hùng biện vĩ đại nhất. Và thật lạ, họ nghe rồi không còn “khó chịu” nữa mà chỉ im lặng, như vậy có nghĩa là cảm giác của họ “khác” rồi. Đúng là “lời nói lung lay, gương bày lôi kéo”. Ngài tiếp tục tái xác định: “Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời” (Ga 6:58). Nghe “chết” thì buồn, chứ nghe “sống” thì khoái lắm, đặc biệt là “sống muôn đời”. Thế thì trên cả tuyệt vời rồi!

Ôi chao, thế thì còn gì bằng, chí lý lắm! Chắc hẳn lúc đó có nhiều tâm hồn đang cứng như sáp nguội bỗng chốc hóa “mềm nhũn” như sáp nến gặp lửa nóng vậy. Trong số những người biết cách đắn đo cân nhắc khôn ngoan thì chắc cũng không thiếu những người dại khờ, ngớ ngẩn hoặc ngu xuẩn. Tại sao? Vì cố chấp, biết đúng mà cứ muốn chứng tỏ “bản lĩnh dốt” của mình, vì quá tự ái quá cao, vì “cái tôi” quá lớn, vì không muốn tin vào quyền năng của “chàng trai trẻ” Giêsu, người làng Nadarét, chẳng học trường nào, chẳng bằng cấp gì mà giỏi quá chừng. Vô cùng lạ lùng!

Chuyện người đời vẫn thế. Thời nào cũng vậy, xã hội nào cũng vậy. Ai ngu dốt thì bị khinh, thông minh thì bị ghét, ở đâu cũng có người thế này và người thế nọ, cũng có người khôn và người dại, nhưng người dại thì không biết ngại, ưa tài lanh, dốt mà chảnh. Thật là nhiêu khê, thế nên càng cần phải khôn ngoan đắn đo và cân nhắc.

Nói về hệ lụy Gieo – Gặt, nhưng vẫn liên quan vấn đề đắn đo cân nhắc, Dick Lyles nhận định: “GIEO suy nghĩ, GẶT hành động; GIEO hành động, GẶT thói quen; GIEO thói quen, GẶT tính cách; GIEO tính cách, GẶT số phận”.

Lạy Thiên Chúa, xin ban thêm khôn ngoan cho con và giúp con sống khiêm nhường để nên công chính theo Tôn Ý Ngài, hầu đáng được mãi mãi “ở lại trong tình thương của Ngài” (Ga 15:9). Xin Ngài giáng phúc cho người đã quan tâm đến con (Rút 2:19), xin tha thứ cho họ nếu họ xúc phạm tới con, và cũng xin tha thứ cho con vì con đã không đủ tốt để làm họ vừa lòng. Con chân thành cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

Trầm Thiên Thu